Chòm sao Kình Ngư

13/08/2018 | Mai Đức Thạch | 1326 xem

Chòm sao Kình Ngư được định vị ở Bắc thiên cầu. Nó còn được biết đến là Cá voi.Tên của chòm sao được đặt tên theo Cetus, một con quái vật biển trong thần thoại Hy Lạp gắn với Tiên Nữ- công chúa bị hiến thân cho quái vật biển để trừng phạt cho tính kiêu căng và khoe khoang của người mẹ Cassiopeia.

Chòm sao này được xác định trên vùng trời gắn với nước, và nó được đặt tên bởi nhà thiên văn học Hy Lạp Ptolemy vào thế kỷ thứ II. Chòm sao này có thiên hà xoắn ốc M77 và một số ngôi sao nổi tiếng như Deneb Kaitos, Menkar, Tau Ceti và Mira.

Chòm sao Kình Ngư

Vị trí của chòm sao Kình Ngư trên bầu trời

Kình Ngư là chòm sao có kích thước lớn thứ 4 trên bầu trời, chiếm diện tích 1231 độ vuông. Nó nằm ở góc phần tư thứ nhất của Nam thiên cầu và có thể quan sát được trên các vĩ độ từ 70o đến -90o. Những chòm sao lân cận của nó là: Bảo Bình, Bạch Dương, Ba Giang, Thiên Lô, Song Ngư, Ngọc Phu, Kim Ngưu.

Kình Ngư có 14 ngôi sao hành tinh được biết đến và một đối tượng Messier M77. Ngôi sao sáng nhất của chòm sao là Deneb Kaitos. Có 3 trận mưa sao băng liên quan đến chòm sao: October Kình Ngư, Eta Kình Ngư, Omicron Kình Ngư.

Chòm sao này thuộc gia đình chòm sao Anh Tiên.

Nguồn gốc tên gọi của chòm sao Kình Ngư

Kình Ngư đại diện cho con quái vật biển từ thần thoại Hy Lạp gắn với Tiên Nữ. Do mẹ của Tiên Nữ là Tiên Hậu tính thích khoe khoang con gái mình đẹp tất cả mọi người nên đã chọc giận thần biển Poseidon và thần đã sai Kình Ngư đến. Để có thể xoa dịu sự tức giận của thần biển, Tiên Vương và Tiên Hậu phải hy sinh con gái mình cho Kình Ngư để Kình Ngư không tàn phá vương quốc mình.

Tiên Nữ đã bị xích vào tảng đá để phó mặc cho quái vật biển, nhưng vận may đã đến với cô, người anh hung Anh Tiên đang đi ngang qua khi Kình Ngư đang chuẩn bị ngấu nghiến cô. Anh Tiên đã cứu công chúa khỏi cái chết bởi Kình Ngư và sau đó, anh đã cưới cô.

Kình Ngư thường được miêu tả trong tiếng Hy Lạp là con vật lai với chiếc quai hàm khổng lồ và một thân thể có vảy như một con rắn biển khổng lồ. Mặc dù chòm sao được biết đến như con cá voi, nhưng trong thần thoại lại mô tả nó không giống con cá voi.

Những ngôi sao nổi bật của chòm sao Kình Ngư

Beta Kình Ngư (Deneb Kaitos, Diphda): là ngôi sao sáng nhất của chòm sao. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 2,04 và ở khoảng cách khoảng 96,3 năm ánh sáng. Đó là một ngôi sao cam khổng lồ thuộc kiểu tinh tú K0III. Nó trong giai đoạn chuỗi chính của quá trình tiến hóa và nó sẽ dần trở thành ngôi sao đỏ khổng lồ. Với nhiệt độ bề mặt 4800K, nó là ngôi sao lạnh hơn Mặt Trời. Ngôi sao này còn được biết đến với cái tên truyền thống Deneb Kaitos hay Diphda. Deneb Kaitos trong tiếng Ả Rập ‘Al Dhanab al Ḳaiṭos al Janūbīyy’ có nghĩa là ‘cái đuôi phía nam của Kình Ngư’, còn Diphda từ tiếng Ả Rập ‘aḍ-ḍafdaʿ aṯ-ṯānī’ có nghĩa là ‘con ếch thứ hai’.

Alpha Kình Ngư (Menkar): là ngôi sao đỏ khổng lồ rất già, ở khoảng cách khoảng 249 năm ánh sáng. Ngôi sao này đang dần ném vật chất ra bên ngoài để trở thành một tinh vân hành tinh để thoát khỏi hình dạng ngôi sao lùn trắng. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 2,54. Cái tên truyền thống của ngôi sao Menkar từ tiếng Ả Rập có nghĩa là ‘lỗ mũi’.

Omicron Kình Ngư (Mira): là một ngôi sao nhị phân bao gồm một ngôi sao đỏ khổng lồ và một ngôi sao đồng hành. Hệ thống sao này ở khoảng cách khoảng 420 năm ánh sáng.

Mira A là một ngôi sao đỏ khổng lồ thuộc kiểu tinh tú M7IIIe, nó là một nguyên bản ngôi sao biến quang với khoảng 6000-7000 ngôi sao thuộc nhóm sao này. Tất cả chúng đều là những ngôi sao đỏ khổng lồ với sự biến đổi trong độ sáng chói do bề mặt với chu kỳ thay đổi tử 80-1000 ngày. Mira là một ngôi sao biến thiên già được khám phasvaof năm 1667. Nó có độ tuổi khoảng 6 tỷ tuổi.

Ngôi sao đồng hành cùng nó là Mira B là một ngôi sao lùn trắng có nhiệt độ cao và đang phát triển thành một ngôi sao đỏ khổng lồ. Nó là một cặp gắn với nhau tương tự như Mặt Trời.

Mira biến có chu kỳ sáng nhất có thể nhìn thấy bằng mắt thường với chu kỳ 332 ngày. Sự biến thiên này đầu tiên được chỉ ra bởi nhà thiên văn học người Đức David Fabricius năm 1596 và ông cho rằng nó là một ngôi sao mới cho đến mãi sau này năm 1609, nhà thiên văn học người Pháp Johannes Holwarda phát hiện ra sự biến đổi độ sáng tuần hoàn của ngôi sao.

Cái tên của ngôi sao Mira được đặt bởi nhà thiên văn học Ba Lan Johannes Hevelius có nghĩa Latinh là ‘kỳ diệu’.

Tau Kình Ngư: là một ngôi sao lạnh kiểu G8,5 với độ sáng biểu kiến 3,5 và nó là một trong những ngôi sao gần Hệ Mặt Trời nhất với khoảng cách chỉ là 11,9 năm ánh sáng. Nó có khối lượng bằng 78% Mặt Trời, có thể nhìn được bằng mắt thường. Đó là một ngôi sao thiếu hụt kim loại và có chuyển động thực cao. Sự sáng chói của nó chỉ bằng 55% Mặt Trời.

Những đối tượng sâu thẳm trên bầu trời

M77 (NGC 1068): là một thiên hà xoắn ốc sọc cách khoảng 47 triệu năm ánh sáng và có đường kính khoảng 170000 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 9,6. Nó là một trong những thiên hà lớn nhất trong danh sách Messier.

M77 được khám phá bởi nhà thiên văn học người Pháp Pierre Méchain năm 1780 và sau đó được đưa vào danh sách Messier. Thiên hà này được dễ dàng tìm thấy cách 0,7 độ về phía Đông Nam của Delta Kình Ngư.

Thiên hà này có một hạt nhân hoạt động tích cực nơi mà những đám bụi được nhìn thấy với bức xạ mạnh mẽ. Chính Bernard Yarnton Mills đã phát hiện ra điều này.

NGC 1055: ở cách 0,5 độ Bắc đông bắc của M77. Nó là một thiên hà xoắn ốc ở khoảng cách khoảng 52 triệu năm ánh sáng. Nó được khám phá bởi nhà thiên văn học người Anh William Herschel năm 1783. Tiếp theo M77, NGC 1055 là thành viên lớn nhất trong nhóm thiên hà  bao gồm NGC 1073 và một vài thiên hà bất thường nhỏ hơn. Nó có đường kính khoảng 115800 năm ánh sáng. Thiên hà này có một nguồn bức xạ được biết đến.

NGC 1087: là một thiên hà xoắn ốc trung bình, cách khoảng 80 triệu năm ánh sáng. Nó có một thanh chắn trung tâm rất nhỏ và một số đặc tính bất thường trong đĩa với vật chất bao quanh nó. Hạt nhân của thiên hà vô cùng nhỏ. NGC 1087 khá gần NGC 1090, một thiên hà xoắn ốc khác như chúng không thể tương tác với nhau.

NGC 1073: là một thiên hà khác. Nó được cho là có một hạt nhân H II. Nó có độ sáng biểu kiến 11,5.

NGC 45: là một thiên hà soắn ốc sọc, cách khoảng 32,6 triệu năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 10,4 và được khám phá bởi nhà thiên văn học người Anh John Herschel năm 1835.

NGC 17: là một thiên hà xoắn ốc cách khoảng 250 triệu năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 15,3. Nó được cho là hình thành do kết quả của sự hợp nhất hai thiên hà với vùng lõi rất nhiều khí bụi.

NGC 47 (NGC 58): là một thiên hà xoắn ốc sọc, ở khoảng cách khoảng 236 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 13,5. Thiên hà này được khám phá bởi nhà thiên văn học Đức Ernst Wilhelm Leberecht Tempel năm 1886. Nó còn được biết đến là NGC 58. Thiên hà này xuất hiện như một tinh vân xoắn ốc nhỏ với phần lõi sáng.

NGC 1042: là một thiên hà xoắn ốc với độ sáng biểu kiến 14,0, nó được định vị khá gần thiên hà NGC 1035 và được cho là chúng có lien hệ với nhau.

NGC 247 (Caldwell 62): là một thiên hà xoắn ốc trung bình, cách khoảng 11,1 triệu năm ánh sáng. Nó có chịu lực hấp dẫn của thiên hà Nhà điêu khắc (NGC 253).