Chòm sao Bán Nhân Mã

13/08/2018 | Mai Đức Thạch | 1760 xem

Chòm sao Bán Nhân mã là một chòm sao ở nam thiên cầu. Nó đại diện cho con nhân mã – với một nửa hình người và một nửa phần ngựa trong thần thoại Hy Lạp. Có nhiều nguồn khác nhau về Nhân mã, một trong số đó là con nhân mã Chiron, người thường giúp đỡ Heracles.

Bán Nhân Mã chứa đựng top 2 ngôi sao sáng nhất trên bầu trời là Alpha Bán Nhân Mã và Beta Bán Nhân Mã. Một trong những thiên hà sáng sủa nhất trong bầu trời đêm là Bán Nhân Mã A và quần tinh cầu Omega Bán Nhân Mã. Tinh vân hành tinh Lam, được biết đến ở phía Nam chòm sao.

Chòm sao này là một trong những chòm sao nằm trong danh mục các chòm sao của nhà thiên văn học Hy Lạp Ptolemy và sớm hơn nữa là Eudoxus và Aratus.

Chòm sao Bán Nhân Mã

Vị trí chòm sao Bán Nhân Mã trên bầu trời

Bán Nhân Mã là chòm sao có kích thước lớn thứ 9 trên nền trời sao, chiếm giữ diện tích 1060 độ vuông. Nó nằm ở góc phần tư thứ ba của nam thiên cầu và có thể quan sát được trên các vĩ độ từ 25o đến -90o. Những chòm sao lân cận của nó là: Tức Đồng, Thuyền Để, Viên Quy, Nam Thập Tự, Trường Xà, Thiên Xứng, Sài Lang, Thương Dăng, Thuyền Phàm.

Bán Nhân Mã có 11 ngôi sao hành tinh được biết đến. Ngôi sao sáng nhất của chòm sao là Alpha Bán Nhân mã là ngôi sao sáng thứ 4 trên bầu trời. Beta Bán Nhân Mã là ngôi sao sáng thứ hai của chòm sao là là ngôi sao sáng thứ 10 trên bầu trời. Có 3 trận mưa sao băng có liên quan đến chòm sao là Alpha Bán Nhân Mã, Omicron Bán Nhân Mã và Theta Bán Nhân Mã.

Chòm sao này thuộc về gia đình chòm sao Vũ Tiên.

Nguồn gốc tên gọi của chòm sao Bán Nhân Mã

Nguồn gốc của chòm sao Bán Nhân Mã được biết đến trong các chòm sao cổ Babylon đại diện cho Bison-man (MUL.GUD.ALIM). Nó được miêu tả là một con bò rừng với 4 chân với một cái đầu của người đàn ông gán với thân và chân của một con bò rừng hoặc một con bò đực. Thần thoại Babylon miêu tả nó với thần Mặt Trời Utu (Shamash).

Trong thần thoại Hy Lạp và La Mã, chòm sao Bán Nhân mã được liên kết đến một con nhân mã, một nhân vật thần thoại với hình dáng nửa người nửa ngựa. Nhưng không có một thần thoại nào đặc biệt liên quan đến chòm sao. Theo Ovid – một nhà thơ La Mã trong thiêin nên kỷ thứ nhất, nó đại diện cho Chiron, một nhân mã chân chính, gắn với nhiều anh hùng Hy Lạp: Achilles, Jasson, Theseus, Heracles, Asclepius (con trai của Apollo) và nhiều anh hùng khác.

Với nhiều nguồn khác nhau liên quan đến nó, nhưng trong mối tương quan với chòm sao Nhân Mã và Bán Nhân Mã.

Chiron là con trai của Titan Cronus và nữ thần biển Philyra. Cronus đã quyến rũ nàng tiên, nhưng hai người bị bắt gặp bởi vợ của Cronus là Rhea. Để tránh sự rình mò của vợ mình, Cronus đã biến thành một con ngựa. Như là một hệ quả, nữ thần Philyra sinh ra một đứa con lai giữa người và ngựa.

Chiron cũng được biết đến là một thầy thuốc, âm nhạc và thợ săn đáng kính. Ông ta sống trong một cái hang trên núi Pelion và được dạy bảo bởi nhiều anh hung, chàng trai trẻ. Ông bị giết chết bởi mũi tên cảu người anh hùng Heracles khi mũi tên của thần nhúng chất độc của con rắn 9 đầu và không thể có thuốc điều trị.

Nhưng là con trai của vị thần Cronus, Chiron là một vị thần bất tử, cho nên khi mũi tên bắn trúng ông ta, ông đã trải qua một cơn đau khủng khiếp, nhưng không thể chết. Zeus đã giúp kết liễu cuộc đời của ông để tránh cho ông khỏi mọi đau khổ, sau đó, Zeus đã đặt xác ông lên bầu trời thành một chòm sao.

Những ngôi sao nổi bật của chòm sao Bán Nhân Mã

Alpha Bán Nhân Mã (Rigil): là một hệ thống gồm nhiều ngôi sao, chỉ ở khoảng cách 4,365 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan -0,27. Alpha Bán Nhân Mã A là thành phần sáng nhất trong hệ thống, nó có độ sáng trực quan -0,01 và là ngôi sao sáng thứ 4 trên bầu trời, chỉ hơi yếu hơn Arcturus trong chòm sao Mục Phu nhưng hệ thống Alpha Bán Nhân mã lại sáng hơn Arcturus.

Alpha Bán Nhân Mã A là ngôi sao chính, nó tương tự như Mặt Trời: đó là một ngôi sao vàng trắng chuỗi chính thuộc lớp tinh tú G2V, khối lượng lớn hơn Mặt Trời 10%.

Alpha Bán Nhân Mã B là một ngôi sao sáng khác trong chòm sao. Nó là một ngôi sao chuỗi chính thuộc kiểu tinh tú K1V, hơi nhỏ hơn Mặt Trời. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 1,33 và là ngôi sao sáng thứ 21 trên bầu trời, chỉ hơi sáng hơn Regulus trong chòm sao Sư Tử.

Hai ngôi sao này có độ tuổi già hơn Mặt Trời: khoảng 4,85 tỷ năm và 250 triệu năm so với Mặt Trời.

Alpha Bán Nhân Mã C (Proxima): đây là ngôi sao thứ ba trong hệ thống Alpha Bán Nhân Mã. Nó là một ngôi sao lùn đỏ có hình thức của một sao đôi quang học với Alpha Bán Nhân Mã AB và một người bạn chịu lực hấp dẫn của Alpha Bán Nhân Mã AB. Alpha Bán Nhân Mã C, có ly giác 2,2o từ sao nhị phân. Nó thuộc kiểu tinh tú M5Ve hoặc M5Vie. Nó đang trong giai đoạn sao chuỗi chính nhỏ hoặc sao lùn dưới. Nó có khối lượng chỉ bằng 12,3% Mặt Trời và ngôi sao sẽ ở độ tuổi chuỗi chính trong khoảng 4000 tỷ năm tới.

Proxima chỉ cách Mặt Trời 4,24 năm ánh sáng và là ngôi sao gần hệ Mặt Trời nhất. Tuy nhiên, với độ sáng biểu kiến 11,05, nó không thể được quan sát bằng mắt thường. Ngôi sao thuộc lớp sao lóe sáng UV Ceti, nơi nó dó sự thay đổi bất thường trong độ sáng trong khoảng từ 11,0 đến 11,9. Ngôi sao này được khám phá bởi nhà thiên văn học Scotlen-Nam Phi Robert Innes vào năm 1915.

Ngôi sao này còn được biết đến với cái tên truyền thống Rigil và Toliman. Rigil là một cụm từ trong tiếng Ả Rập ‘Rijl Qantūris’ có nghĩa là ‘bàn chân của con nhân mã’; trong khi Toliman trong tiếng Ả Rập là ‘al-Zulmān’ có nghĩa là ‘đà điểu châu phi’.

Alpha Bán Nhân Mã là hệ thống sao gần Hệ Mặt Trời nhất. Nếu có dịp quan sát hệ thống sao Alpha Bán Nhân Mã, chúng ta sẽ nhìn thấy hình ảnh tương tự như bầu trời của chúng ta vậy, với Mặt Trời trong hệ thống sao này có độ sáng 0,5 trong chòm sao Tiên Hậu.

Beta Bán Nhân Mã (Hadar, Agena): là một ngôi sao lam-trắng khổng lồ, ở khoảng cách 348,83 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 0,6 và là ngôi sao sáng thứ 10 trên bầu trời. Nó thuộc kiểu tinh tú B1III. Cái tên truyền thống của ngôi sao Hadar có nghĩa từ tiếng Ả Rập là ‘nền tảng’ trong khi Agena có nghĩa từ tiếng Latinh là ‘đầu gối’.

Beta Bán Nhân mã là một ngôi sao nhị phân với ngôi sao thành phần ly giác với ngôi sao sáng hơn 1,3 giây cung. Ngôi sao sáng hơn, Hadar A, là một sao quang phổ nhị phân với một cặp ngôi sao quay quanh nhau với chu kỳ quỹ đạo 357 ngày. Ít nhất một trong số ngôi sao đó là một ngôi sao biến quang kiểu Beta Cephei, nơi ngôi sao có sự biến đôi trong độ sáng là kết quả của hình dáng bề mặt của nó. Hadar B có quỹ đạo quay quanh ngôi sao chính với ít nhất 250 ngày để hoàn thành một vòng quay.

Theta Bán Nhân Mã (Menkent, Haratan): là một ngôi sao cam khổng lồ kiểu K, ở khoảng cách khoảng 60,9 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến 2,06. Cái tên truyền thống của nó Menkent có nghĩa là ‘vai của con nhân mã’ trong tiếng Ả Rập. Ngôi sao đôi khi còn được biết đến với cái tên Haratan.

Gamma Bán Nhân Mã (Muhlifain): là một ngôi sao nhị phân bao gồm hai ngôi sao thuộc kiểu tinh tú A0, với độ sáng biểu kiến trực quan của mỗi ngôi sao là 2,9. Hệ thống sao này cách Trái Đất 130 năm ánh sáng và có độ sáng biểu kiến tổng hợp 2,2. Hai ngôi sao có quỹ đạo 83 năm.

Epsilon Bán Nhân Mã: là ngôi sao lam-trẳng khổng lồ thuộc lớp tinh tú B1III. Nó là một ngôi sao biến quang Beta Cephei, với sự biến đổi trong độ sáng là do kết quả của hình dáng bề mặt bên ngoài với độ sáng biến đổi từ 2,29 đến 2,31. Epsilon Bán Nhân Mã ở khoảng cách khoảng 380 năm ánh sáng.

Eta Bán Nhân Mã: là một ngôi sao lùn rất nóng kiểu B, có độ tuổi ít hơn 20 triệu năm tuổi. Nó là một ngôi sao kiểu Be, một ngôi sao phát quang biến thiên nhờ những dòng bức xạ hydrogen. Nó cũng thuộc lớp sao biến quang kiểu Gamma Tiên hậu, hay sao vỏ, nơi nó có tố độ quay nhanh với một đĩa khí bao quanh ở đường xích đạo. Tốc độ quay của ngôi sao tại đường xích đạo là 310km/s và chu kỳ quay của nó ít hơn 1 ngày. Eta Bán Nhân mã có khoảng cách 30 năm ánh sáng và có
độ sáng biểu kiến 2,33.

Zeta Bán Nhân Mã (Alnair): là một ngôi sao quang phổ nhị phân với độ sáng biểu kiến 2,55. Nó ở khoảng cách khoảng 385 năm ánh sáng. Cái tên truyền thống của nó Alnair xuất phát từ tiếng Ả Rập ‘Nayyir Badan Qanṭūris’ có nghĩa là ‘ngôi sao sáng ở thân của Nhân Mã’. Ngôi sao này thuộc lớp tinh tú B2,5IV. Nó có chu kỳ quỹ đạo trên 8 ngày.

Delta Bán Nhân Mã (Ma Wei): là một ngôi sao Be, kiểu sao B, thuộc lớp tinh tú B2IVne, lớp sao biến quang Gamma Tiên Hậu. Nó ở khoảng cách khoảng 395 năm ánh sáng. Ngôi sao này có độ sáng biến đổi trong khoảng 2,51 đến 2,65. Cái tên Ma Wei bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc có nghĩa là ‘ngôi sao thứ ba của đuôi ngựa’ trong mối tương quan với các ngôi sao Delta, R và Rho Bán Nhân Mã.

Nu Bán Nhân Mã: là một ngôi sao lam-trắng tiền khổng lồ (kiểu tinh tú B2IV), cách Trái Đất khoảng 475 năm ánh sáng. Nó là một ngôi sao thuộc lớp tương tự như kiểu sao biến quang Beta Cephei, với sự dao động trong độ sáng do tác động của bề mặt. Nó là một ngôi sao biến quang tốc độ hình bầu dục, nơi nó gần giống sao nhị phân, nơi mà độ sáng của nó xuất hiện như là kết quả của việc thay đổi của ánh sáng bao phủ trên bề mặt từ phía quan sát. Spica là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Thất Nữ, là ngôi sao bầu dục quay sáng nhất trên bầu trời. Ngôi sao này có độ sáng biểu kiến trung bình 3,41. Với giá trị độ sáng của nó biến đổi từ 3,38 đến 3,41 với một chu kỳ 2,62 ngày.

Kappa Bán Nhân Mã (Ke Kwan): là một ngôi sao nhị phân, ở khoảng cách khoảng 540 năm ánh sáng. Nó thuộc kiểu tinh tú B2IV. Ngôi sao sáng hơn trong hệ thống là một ngôi sao lam-trắng kiểu B tiền khổng lồ với độ sáng biểu kiến 3,13 và ngôi sao đồng hành của nó ly giác 0,12 giây cung. Hệ thống sao này còn thường được biết đến với cái tên Trung Quốc Ke Kwan có nghĩa là ‘ngôi sao thứ ba của bộ phận bảo vệ vương quốc’.

BPM 37093: là một sao lùn trắng thuộc lớp tinh tú DAV4,4. Nó là một ngôi sao biến quang kiểu DAV hoặc ZZ Ceti nơi nó là một ngôi sao lùn trắng với khí quyển hydrogen thuộc kiểu tinh tú DA. Sự biến quang của ngôi sao là do trọng lực lệch tâm của nó. Ngôi sao này ở khoảng cách khoảng 53 năm ánh sáng và có độ sáng biểu kiến 14,0.

Những đối tượng sâu thẳm trên bầu trời

NGC 5128 (Bán Nhân Mã A): là thiên hà sáng thứ 5 trên bầu trời và là một trong những thiên hà gần Hệ Mặt Trời nhất. Đó là một thiên hà dạng thấu kính hoạc dạng bầu dục ở khoảng cách khoảng 10 hoặc 16 triệu năm ánh sáng.

Thiên hà này có độ sáng biểu kiến trực quan 6,84. Nó được cho là đang tồn tại một lỗ đen lớn tại trung tâm.

Nó được cho là đã xảy ra một sự va chạm với một thiên hà xoắn ốc, làm cho hình dạng của nó bị xé vụn. Như là một kết quả, nó tạo ra một tiếng nổ mãnh liệt của thông tin sao trong Bán Nhân Mã A.

Có khoảng hơn 100 ngôi sao dược cho là hình thành từ vùng trong đĩa thiên hà. Năm 1986, một ngôi sao mới kiểu Ia, SN1986G, nơi nó là một ngôi sao lùn trắng nổ được phát hiện trong thiên hà.

Thiên hà này được xác định tại tâm của Bán Nhân Mã A của nhóm thiên hà Bán Nhân Mã A/M83.

NGC 5139 (Omega Bán Nhân Mã): là một quần tinh hình cầu. Nó ở vị trí cách 4 độ về phía Nam của Bán Nhân Mã A. Quần tinh này có độ sáng biểu kiến 3,7 và ở khoảng cách khoảng 15800 năm ánh sáng. Nó là một trong những thiên hà có quỹ đạo quanh Dải Ngân Hà lớn nhất, quần tinh hình cầu sáng nhất được biết đến liên quan đến Dải Ngân hà. Quần tinh này có thể được quan sát được bằng mắt thường.

Trước đây, quần tinh này được cho là một ngôi sao bởi Ptolemy, năm 1677, nhà thiên văn học Edmond Halley cho nó là một tinh vân và sau đó vào thập niên 1830 nhà thiên văn học người Anh John Frederick William Herschel đã cho đó là một quần tinh.

Quần tinh này chứa đựng hàng vài triệu ngôi sao và với độ tuổi được cho là khoảng 12 tỉ năm. Những ngôi sao ở tâm khá gần nhau và chỉ cách nhau khoảng 0,1 năm ánh sáng.

Ngôi sao Kapteyn là một sao lùn đỏ trong chòm sao Hội Giá có chuyển động thực khá cao, nó được cho là bắt nguồn từ Omega Bán Nhân Mã.

Quần tinh này được cho là có chứa một lỗ đen tại trung tâm của nó. Các nhà khoa học cho rằng nó được hình thành từ lõi của thiên hà lùn  được hút về một bên trong Dải Ngân Hà.

NGC 4945: là một trong những thiên hà sáng nhất trong nhóm Bán Nhân Mã A/ M83 và là thiên hà sáng thứ hai trong nhóm nhỏ Bán Nhân Mã A. Thiên hà này được khám phá vào năm 1826 bởi James Dunlop.

Thiên ha này ở khoảng cách khoảng 11,7 triệu năm ánh sáng và có độ sáng biểu kiến trực quan 9,3.

Đây là một thiên hà xoắn ốc chứa đừng một hạt nhân Seyfert II, năng lượng có thể được cho là một lỗ đen.

NGC 4650A: là một thiên hà vòng cực, một kiểu thiên hà có một cái vòng bên ngoài gồm sao và khsi quay quanh cực của thiên hà.

Chiếc vòng cực này được cho là được hình thành từ kết quả của 2 thiên hà hấp dẫn lẫn nhau, hay là sự va chạm của một thiên hà nhỏ hơn bị cuốn vào và quay quanh nó. Hiện nay có khoảng 100 thiên hà vòng cực được biết đến.  NGC4650A có độ sáng biểu kiến 13,9 và ở khoảng cách khoảng 130 triệu năm ánh sáng.

NGC 3918 (Tinh vân Hành tinh xanh): đây là tinh vân hành tinh sáng nhất trên bầu trời phương nam với độ sáng biểu kiến trực quan 8,5 và có thể được quan sát qua một kính thiên văn cỡ nhỏ. Nó được khám phá vào năm 1834 bởi John Herschel. Tinh vân này ở khoảng cách khoảng 4900 năm ánh sáng.

NGC 4622: là mặt trên của một thiên hà xoắn ốc, ở khoảng cách khoảng 111 triệu năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến trực quan 12,6. Thiên hà này đôi khi còn được gọi là “thiên hà nền đen”. Giống như một kiểu với những cánh tay xoắn ốc quay quanh đĩa.

NGC 5090 và NGC 5091: là một cặp thiên hà mà trong tương lai có khả năng va chạm và hợp nhất vào nhau. Chúng cách Trái Đất khoảng 150 triệu năm ánh sáng. NGC 5090 là một thiên hà elip, với một bức xạ nhiệt mạnh mẽ trong khi NGC 5091 là một thiên hà xoắn ốc. Hai thiên hà có độ sáng biểu kiến lần lượt là 12,6 và 13,9.

NGC 4696: là một thiên hà bầu dục cách khoảng 150 triệu năm ánh sáng. Nó là thiên hà sáng nhất trong tất cả các thiên hà trong Quần tinh Bán Nhân Mã (A3526), một quần tinh lớn gồm hàng trăm thiên hà trong chòm sao Bán Nhân Mã. Thiên hà này có độ sáng biểu kiến 11,4. Nó được bao vây bởi một số thiên hà bầu dục lùn.

NGC 5253: là một thiên hà bất thường với độ sáng biểu kiến 10,3 cách Trái Đất khoảng 10,9 năm ánh sáng. Nó nằm trong nhóm nhỏ thiên hà M83. Thiên hà này được khám phá bởi John Frederick William Herschel năm 1787. Một sao mới sáng nhất SN1972E được khám phá với độ sáng biểu kiến 8,5.

NGC 5408: là một thiên hà bất thường được khám phá bởi Herschel vào năm 1834. Nó nằm gần nhóm thiên hà nhỏ M83, nhưng không thuộc nhóm thiên hà này. Thiên hà này có độ sáng biểu kiến trực quan 12,2 và ở khoảng cách khoảng 15,7 năm ánh sáng.

NGC 4603: là một thiên hà xoắn ốc thuộc kiểu biến quang 36 Cepheid. Nó là một trong những thiên hà xa nhất chứa đựng Cepheid. Thiên hà này có độ sáng biểu kiến trực quan 12,3.

NGC 5291: là một thiên hà vòng với cái vòng chứa đựng nhiều ngôi sao trẻ.