Chòm sao Ấn Đệ An

05/07/2019 | Mai Đức Thạch | 195 xem

Chòm sao Ấn Đệ An là một chòm sao ở Nam thiên cầu. Nó đại diện cho người Indian, một tộc người ở châu Á hay châu Mỹ. Chòm sao này được tạo ra bởi nhà thiên văn học người Hà Lan Petrus Plancius vào thế kỷ XVI và lần đầu tiên được xuất hiện trong tập bản đồ Uranometria của JohannBayer xuất bản năm 1603. Plancius mô tả là một người Indian nam đang đứng cầm một mũi tên trên tay. Đây là một chòm sao tương đối mờ. Ngôi sao sáng nhất chỉ độ sáng 3.

Chòm sao Ấn Đệ An

Vị trí chòm sao Ấn Đệ An trên bầu trời

Ấn Đệ An là chòm sao lớn thứ 49 trên bầu trời chiếm diện tích 294 độ vuông. Nó nằm ở góc phần tư thứ tư của Nam thiên cầu và có thể quan sát trên các vĩ độ 15o đến -90o. Những chòm sao lân cận của nó là: Thiên Hạc, Hiển Vi Kính, Nam Cực, Khổng Tước, Nhân Mã, và Đỗ Quyên.

Ấn Đệ An có 2 ngôi sao hành tinh được biết đến và không có đối tượng Messier nào. Ngôi sao sáng nhất của chòm sao là Persian (Alpha Ấn Đệ An) có độ sáng biểu kiến 3,11. Không có trận mưa sao băng nào liên quan đến chòm sao.

Chòm sao Ấn Đệ An thuộc gia đình chòm sao Johann Bayer.

Nguồn gốc tên gọi của chòm sao Ấn Đệ An

Không có câu chuyện thần thoại nào liên quan đến chòm sao. Ấn Đệ An được miêu tả đang cầm một mũi giáo trong tư thế đi săn. Họ có lẽ là một tộc người ở Mandagascar.

Những ngôi sao nổi bật của chòm sao Ấn Đệ An

Alpja Ấn Đệ An (Persian): là một ngôi sao thuộc kiểu tinh tú K0III-IV, nó đang trong giai đoạn phát triển thành một ngôi sao khổng lồ. Nó có độ sáng biểu kiến 3,11 và cách Hệ Mặt Trời khoảng 98,3 năm ánh sáng. Ngôi sao này còn được biết đến với cái tên Persian. Nó là một sao đôi có độ sáng 12 và 13 và đều là sao lùn đỏ. Ngôi sao này có khổi lượng gấp đôi và bán kính gấp 12 lần Mặt Trời. Nó có độ tuổi khoảng 1 tỷ năm tuổi.

Beta Ấn Đệ An: là một ngôi sao sáng khổng lồ thuộc lớp tinh tú K1II. Nó có độ sáng 3,658 và ở khoảng cách khoảng 600 năm ánh sáng. Nó là một ngôi sao nhị phân cùng với một ngôi sao có độ sáng biểu kiến 12,5.

Epsilon Ấn Đệ An: là một ngôi sao dãy chính thuộc lớp tinh tú K5V. Nó cách Trái Đất 11,83 năm ánh sáng. Nó là một hệ thống gồm 2 ngôi sao, đều là những ngôi sao lùn  nâu kiểu T1V và T6V. Người bạn đồng hành của nó được khám phá vào năm 2003. Trên mô tả, nó đánh dấu là mũi tên của người Indian. Nó là một ngôi sao có chuyển động thực lớn thứ ba và có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nó sẽ di chuyển sang chòm sao Đỗ Quyên trong vòng 2640 năm tới.

Theta Ấn Đệ An: là một sao đôi, cách Mặt Trời khoảng 91 năm ánh sáng. Hai ngôi sao có độ sáng 5 và 6 và có thể quan sát qua một kính thiên văn cỡ nhỏ.

Rho Ấn Đệ An: là một ngôi sao vàng siêu khổng lồ (thuộc lớp tinh tú G2,5IV) với độ sáng biểu kiến 6,064. Nó cách Mặt trời 86,43 năm ánh sáng. Nó có độ tuổi chừng 13 tỷ năm tuổi. Nõ sẽ sớm kết thúc cuộc sống của mình để trở thành một tinh vân hành tinh. Một hành tinh Rho Ấn Đệ An b được khám phá vào năm 2002.

T-Ấn Đệ An: là một ngôi sao bán biến quang. Nó là một ngôi sao đỏ khổng lồ với chu kỳ 11 tháng. Nó cách Hệ Mặt Trời khoảng 1900 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến biến đổi từ 7 tới 5.

Những đối tượng sâu thẳm trên bầu trời

NGC 7049: là một thiên hà cách Trái Đất 100 triệu năm ánh sáng. Nó có đường kính khoảng 150000 năm ánh sáng. 

Thiên hà này có một cái vòng bụi nổi bật và một quần tinh hình cầu tương đối nhỏ. Nó có đặc trưng của cả một thiên hà xoắn ốc lẫn thiên hà hình cầu. Sự xuất hiện khác thường này của nó được cho là kết của của một cuộc va chạm của nó với một thiên hà khác.

Ngôi sao được nhìn thấy tại đỉnh của cái vòng nằm trên thiên hà chúng ta, tức là Dải Ngân Hà.

IC 5152: là một thiên hà bất thường. Nó được khám phá lần đầu tiên bởi một nhà thiên văn học người Mỹ DeLisle Stewart năm 1908. Nó là một thiên hà ở xa nhóm thiên hà địa phương. Nó có khá nhiều ngôi sao, nhưng chỉ là ngôi sao ở mặt trước còn sâu hơn thì khó quan sát.

NGC 7090: là một thiên hà xoắn ốc có độ sáng biểu kiến 10,51 và ở khoảng cách khoảng 30 triệu năm ánh sáng. Nó được khám phá bởi nhà thiên văn học người Anh John Herschel vào ngày 4/10/1834.

NGC 7083: có độ sáng 12 và là một thiên hà xoắn ốc. Một lỗ đen SN 2009hm được khám phá vào năm 2009.

NGC 7041: là một thiên hà elip. Nó được khám phá bởi John Herschel  ngày 8/7/1834. Nó có độ sáng biểu kiến 12,2.

NGC 7029: là một thiên hà sáng elip. Nó có độ sáng biểu kiến 11,7 và ở khoảng cách 118,4 triệu năm ánh sáng. Nó được khám phá bởi John Herschel vào năm 1834.